VSGA tổng hợp nội dung nghiên cứu khoa học đánh giá tác động của việc đồng hóa dữ liệu vận tốc dòng chảy mặt biển từ vệ tinh ODYSEA vào hệ thống phân tích và dự báo đại dương NCOM (Navy Coastal Ocean Model). Thông qua thí nghiệm mô phỏng hệ thống quan trắc (OSSE) trên khu vực Vịnh Mỹ, nghiên cứu cho thấy dữ liệu vận tốc bề mặt giúp giảm sai số trong ước tính dòng chảy và độ cao mặt biển, đồng thời chỉ ra một số hạn chế liên quan đến mô phỏng nhiệt độ và độ mặn ở tầng sâu.

Tóm tắt

Nghiên cứu đánh giá tác động của việc đồng hóa dữ liệu vận tốc dòng chảy mặt biển từ vệ tinh ODYSEA vào hệ thống phân tích và dự báo đại dương Navy Coastal Ocean Model (NCOM).

Để thực hiện điều này, nhóm tác giả xây dựng một thí nghiệm mô phỏng hệ thống quan trắc (OSSE) trên khu vực vùng vịnh của Mỹ với mô hình NCOM có độ phân giải cao 1km trong thời gian bốn tháng. Dữ liệu vận tốc bề mặt biển được mô phỏng theo đặc tính dự kiến của vệ tinh ODYSEA và được đồng hóa vào hệ thống dự báo bằng phương pháp đồng hóa vận tốc hai bước.

Kết quả cho thấy việc bổ sung dữ liệu vận tốc bề mặt giúp giảm đáng kể sai số trong tính toán vận tốc dòng chảy bề mặt, cải thiện kết quả ước tính vận tốc dòng chảy trong toàn bộ lớp nước phía trên và đồng thời nâng cao độ chính xác của giá trị độ cao mặt biển. Tuy nhiên, chất lượng mô phỏng nhiệt độ và độ mặn ở tầng sâu không được cải thiện tương ứng do các giả định động lực học được sử dụng trong quá trình đồng hóa.

Giới thiệu

Các hệ thống dự báo đại dương hiện đại phụ thuộc rất nhiều vào dữ liệu quan trắc từ vệ tinh và đo đạc thực địa để xây dựng điều kiện ban đầu cho mô hình. Hiện nay, những dữ liệu được sử dụng phổ biến gồm nhiệt độ mặt biển (SST), dị thường độ cao mặt biển (SSHA), cùng các hồ sơ nhiệt độ và độ mặn thu thập từ phao nổi, tàu khảo sát và các thiết bị đo khác. Tuy nhiên, vận tốc dòng chảy đại dương – một trong những tham số quan trọng nhất đối với các bài toán dự báo hải dương học – vẫn chưa thể được quan sát trên phạm vi toàn cầu bằng vệ tinh. Các nguồn dữ liệu vận tốc hiện tại như phao trôi, ADCP, glider hay radar HF chỉ cung cấp thông tin cục bộ và thường có phạm vi không gian hoặc thời gian hạn chế.

Trong những năm gần đây, nhiều sứ mệnh vệ tinh mới như SKIM, Harmony, SeaSTAR và đặc biệt là ODYSEA đã được đề xuất nhằm đo trực tiếp vận tốc dòng chảy mặt biển trên quy mô toàn cầu. Trước khi các vệ tinh này được phóng, các nhà khoa học cần đánh giá trước giá trị của loại dữ liệu mới này đối với các hệ thống dự báo đại dương. Vì vậy, nghiên cứu sử dụng phương pháp OSSE để mô phỏng dữ liệu ODYSEA và kiểm tra mức độ cải thiện mà chúng có thể mang lại cho hệ thống NCOM. Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định xem việc đồng hóa dữ liệu vận tốc bề mặt biển có thể nâng cao chất lượng phân tích và dự báo đại dương hay không.

1
Minh họa 1. Các bước thực hiện để tạo ra dòng hải lưu bề mặt u mô phỏng của ODYSEA vào ngày 2 tháng 9 năm 2020 lúc 01 UTC. ( a ) Dòng hải lưu bề mặt u chạy tự nhiên. ( b ) Tương tự như ( a ) nhưng được nội suy đến các vị trí dải quét của ODYSEA bởi trình mô phỏng ODYSEA. ( c ) Tương tự như ( b ) nhưng có thêm nhiễu từ gió khí quyển và hình dạng dải quét. Đường đồng mức màu hồng biểu thị tốc độ gió 5m/s. ( d ) Tương tự như ( c ) nhưng có áp dụng mặt nạ tốc độ gió, đất liền và vị trí dải quét

Thiết bị và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng hệ thống COAMPS, trong đó mô hình đại dương NCOM đóng vai trò mô phỏng động lực học biển và hệ thống NCODA-3DVAR được sử dụng để đồng hóa dữ liệu. Mô hình được thiết lập cho khu vực Vịnh Mỹ với độ phân giải ngang 1km và 50 tầng theo phương thẳng đứng. Các điều kiện biên được cung cấp từ hệ thống GOFS/HYCOM, dữ liệu khí tượng từ NAVGEM và các nguồn thủy triều, sông ngòi khác nhằm mô phỏng môi trường đại dương một cách thực tế nhất.

so do 1
Minh họa 2. Sơ đồ lưu trình mô phỏng mô hình cho thiết lập thí nghiệm mô phỏng hệ thống quan sát (OSSE)

Điểm nổi bật của nghiên cứu là áp dụng phương pháp đồng hóa vận tốc hai bước. Trong bước đầu tiên, hệ thống đồng hóa các dữ liệu truyền thống như SST, SSHA, nhiệt độ và độ mặn để hiệu chỉnh trạng thái nền của mô hình. Sau đó, ở bước thứ hai, dữ liệu vận tốc dòng chảy mặt biển được đồng hóa riêng biệt nhằm tạo ra các hiệu chỉnh ba chiều cho vận tốc, nhiệt độ và độ mặn, đồng thời duy trì trạng thái cân bằng động lực học của cột nước. Cách tiếp cận này giúp đánh giá rõ ràng hơn ảnh hưởng của dữ liệu vận tốc và giảm chi phí tính toán so với việc đồng hóa tất cả các biến cùng lúc.

Để đánh giá tác động của ODYSEA, tác giả thiết lập bốn thí nghiệm gồm Nature Run (đại diện cho trạng thái “thực”), Free Run (không đồng hóa dữ liệu), Regular OSSE (đồng hóa dữ liệu tiêu chuẩn) và ODYSEA OSSE (đồng hóa dữ liệu tiêu chuẩn cộng thêm dữ liệu vận tốc ODYSEA). Dữ liệu ODYSEA được mô phỏng với độ phân giải 5km và bề rộng dải quét 1500km. Nhiễu đo đạc do gió, hướng gió và hình học dải quét được bổ sung để dữ liệu mô phỏng gần với điều kiện thực tế của vệ tinh tương lai.

2
Minh họa 3. Nhiệt độ bề mặt biển ( a , b ) và độ lớn vận tốc dòng chảy bề mặt ( c , d ) trong điều kiện vận hành tự nhiên ( a , c ) và vận hành tự do ( b , d ) vào ngày 1 tháng 8 năm 2020

Kết quả

Kết quả kiểm tra quá trình đồng hóa cho thấy trường phân tích sau khi đồng hóa luôn gần với quan sát hơn so với trường nền ban đầu. Hệ số tương quan giữa mô hình và quan sát tăng lên trong khi sai số RMSE giảm đáng kể, chứng tỏ hệ thống đồng hóa đã hiệu chỉnh mô hình theo đúng hướng và khai thác hiệu quả thông tin từ dữ liệu vận tốc ODYSEA.

3
Minh họa 4. Chuỗi thời gian của ( a ) số lượng quan sát vận tốc mô phỏng ODYSEA (màu đen) và tốc độ gió (màu xanh lá cây), ( b ) độ dốc của các đường hồi quy của nền (màu đen) và phân tích (màu xanh lam) so với các quan sát, và ( c ) sai số bình phương trung bình (RMSE) của nền (màu đen) và phân tích (màu xanh lam) so với các quan sát từ ngày 1 tháng 8 đến ngày 31 tháng 12. Giá trị trung bình theo miền và thời gian từ ngày 1 tháng 8 đến ngày 31 tháng 12 được hiển thị trong chú thích

Khi đánh giá các trường phân tích bề mặt, nghiên cứu cho thấy việc đồng hóa dữ liệu ODYSEA giúp giảm sai số RMSE của thành phần vận tốc u khoảng 13% và thành phần vận tốc v khoảng 17% so với thí nghiệm chỉ sử dụng dữ liệu tiêu chuẩn. Điều này chứng minh rằng dữ liệu vận tốc bề mặt biển cung cấp thông tin bổ sung rất giá trị mà các dữ liệu truyền thống như SST hay SSHA không thể thay thế hoàn toàn.

4
Minh họa 5. Chuỗi thời gian của RMSE trung bình theo miền của phân tích chạy tự do (màu đen), OSSE thông thường (màu đỏ) và ODYSEA OSSE (màu xanh) so với phân tích chạy tự nhiên đối với ( a ) thành phần u của vận tốc bề mặt và ( b ) thành phần v của vận tốc bề mặt từ ngày 1 tháng 8 đến ngày 31 tháng 12. Giá trị trung bình RMSE trung bình theo miền từ ngày 1 tháng 9, được thể hiện bằng đường chấm dọc, đến ngày 31 tháng 12 được hiển thị ở phía ngoài cùng bên phải

Ngoài cải thiện vận tốc dòng chảy, dữ liệu ODYSEA còn giúp nâng cao chất lượng mô phỏng độ cao mặt biển (SSH), với sai số giảm khoảng 18% so với thí nghiệm Regular OSSE. Tác động của dữ liệu vận tốc không chỉ giới hạn ở bề mặt mà còn lan truyền xuống các tầng sâu hơn thông qua các mối liên hệ động lực học được mô hình hóa trong quá trình đồng hóa. Kết quả cho thấy vận tốc dòng chảy được cải thiện tới độ sâu khoảng 600m, trong khi nhiệt độ và độ mặn chỉ được cải thiện rõ rệt trong khoảng 100m phía trên của cột nước.

5
Minh họa 6. Nhiệt độ bề mặt và vectơ vận tốc ( hàng trên ) và độ lớn dòng điện ( hàng dưới ) cho ( a , d ) ODYSEA OSSE, ( b , e ) chạy tự nhiên (cột giữa) và ( c , f ) OSSE thông thường vào ngày 23 tháng 10 năm 2020

Đối với dự báo 24 giờ, lợi ích của ODYSEA vẫn được duy trì nhưng giảm bớt theo thời gian. Sai số RMSE của vận tốc u và v lần lượt giảm khoảng 5% và 8% so với hệ thống không sử dụng dữ liệu ODYSEA. Điều này cho thấy tác động của dữ liệu vận tốc bề mặt không chỉ giới hạn trong phân tích tức thời mà còn cải thiện khả năng dự báo ngắn hạn của mô hình.

6
Minh họa 7. Dành cho các trường dự báo 24 giờ

Thảo luận

Kết quả nghiên cứu khẳng định tiềm năng lớn của dữ liệu vận tốc mặt biển từ các vệ tinh thế hệ mới như ODYSEA đối với các hệ thống dự báo đại dương độ phân giải cao. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng phát hiện rằng việc đồng hóa dữ liệu vận tốc bề mặt có thể làm giảm nhẹ chất lượng mô phỏng nhiệt độ và độ mặn ở một số tầng sâu.

Nguyên nhân chính được cho là do phương pháp hiện tại giả định rằng mọi tín hiệu vận tốc bề mặt đều tuân theo cân bằng địa chuyển động (geostrophic balance). Trong thực tế, vận tốc mặt biển còn chịu ảnh hưởng của nhiều quá trình phi địa chuyển động như vận chuyển Ekman, dao động quán tính, front và xoáy quy mô nhỏ. Khi các thành phần này bị hiểu nhầm là tín hiệu địa chuyển động, sai số có thể bị lan truyền xuống các tầng sâu trong quá trình đồng hóa.

Tác giả đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo như loại bỏ thành phần phi địa chuyển động khỏi dữ liệu ODYSEA trước khi đồng hóa, sử dụng đồng thời dữ liệu gió đo từ vệ tinh hoặc áp dụng các kỹ thuật đồng hóa tiên tiến hơn như 4DVAR và Ensemble Smoother để xử lý tốt hơn các tín hiệu động lực học phức tạp của đại dương.

Kết luận

Nghiên cứu chứng minh rằng dữ liệu vận tốc dòng chảy mặt biển từ vệ tinh ODYSEA có tiềm năng cải thiện đáng kể chất lượng trong phân tích, dự báo về nhiệt độ và độ mặn ở tầng sâu đại dương.

Việc đồng hóa loại dữ liệu này giúp giảm từ 13–17% sai số vận tốc bề mặt, giảm khoảng 18% sai số độ cao mặt biển và cải thiện trường vận tốc trong lớp nước phía trên tới độ sâu khoảng 600m.

Mặc dù vẫn còn tồn tại một số hạn chế liên quan đến giả thiết địa chuyển động và khả năng mô phỏng nhiệt độ, độ mặn ở tầng sâu, kết quả nghiên cứu cho thấy các sứ mệnh vệ tinh đo vận tốc dòng chảy mặt biển trong tương lai sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho các hệ thống dự báo hải dương học, hỗ trợ hiệu quả cho các ứng dụng như cứu hộ trên biển, theo dõi tràn dầu, vận tải hàng hải và quản lý tài nguyên biển.

Nguồn: https://doi.org/10.3390/rs18132062